Trang Chủ Giới Thiệu Liên Hệ Tin tức - Thông báo
Trang chủ
Bảo tàng
Di sản Văn hoá
Văn hóa Vật thể
::::: Di tích lịch sử
::::: Di tích Cách mạng
::::: Di tích KT Nghệ thuật
::::: Danh lam thắng cảnh
Văn hóa phi vật thể
::::: Lễ hội
::::: Nghề truyền thống
::::: Di sản văn hóa
Nghiên cứu
Khảo cổ học
Cổ vật
Thông tin khoa học
Thư viện hình ảnh
Di tích Nhà tù Côn Đảo
QLNN về DSVH
Tìm kiếm
Góc hình ảnh

 
 

Liên kết Website
Các vị thần thờ cúng tại đình Hắc Lăng
Các vị thần thờ cúng tại đình Hắc LăngĐình thần Hắc Lăng tọa lạc tại ấp Hắc Lăng, xã Tam Phước, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Hắc Lăng có nghĩa là “lụa đen”. Đây làng chuyên nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa có từ thế kỷ XVIII.
     Năm 1820 ấp Hắc Lăng, thuộc tổng An Phú, huyện Phước An, Dinh Trấn Biên(1). Đến năm Minh Mạng thứ 17 (1836) nâng lên thành một xã, thuộc tổng An Phú Thượng, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa(2). Theo truyền thống, đình là nơi thờ thần Thành Hoàng Bổn Cảnh, còn các vị Phúc thần được thờ ở miếu. Thế nhưng Đình thần Hắc Lăng vì nhiều lý do, đang phối thờ ba vị nhân thần.
Hiện nay Đình thần còn lưu giữ đạo sắc ngày 29 tháng 11 năm Tự Đức thứ 5 (08/01/1853) phong thần Thành Hoàng xã Hắc Lăng, huyện Phước An mỹ tự “Bảo An Chánh trực Hựu thiện Đôn ngưng chi thần”, giống như các địa phương khác trong tỉnh. Như vậy, đình Hắc Lăng thờ vị thần chính là thần Thành Hoàng Bổn Cảnh và phối thờ ba vị nhân thần là Quận công Châu Văn Tiếp, Chưởng cơ Diên Lộc hầu Nguyễn Diên và Chưởng cơ Nguyễn Văn Dực (dân địa phương tôn là Hữu Quận công Nguyễn Hữu Dực), không phải chỉ thờ ba vị thần như nhiều người lầm tưởng.
Thông tin Khoa học Lịch sử Bà Rịa -Vũng Tàu số 15-2008 đăng bài “Danh xưng Quận công Nguyễn Hữu Dực tại Đình thần Hắc Lăng” của Hữu Chí, Phạm Anh Dũng, đề cập đến nguồn gốc và nhân thân Nguyễn Hữu Dực. Theo 2 tác giả trên thì Ông chính là Diên Lộc hầu Nguyễn Công và cũng là “Nguyễn Phúc Mân, bào đệ của Nguyễn Phúc Ánh tức vua Gia Long”(3). Bài viết này, bước đầu tìm hiểu về bốn vị thần đang thờ cúng tại đình Hắc Lăng và góp phần làm sáng tỏ nhân vật Nguyễn Hữu Dực.
 
1. Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh.
Nhà Nguyễn quy định mỗi thôn xã chỉ được xây cất một ngôi đình thần làm nơi sinh họat chung cho cộng đồng dân cư(4). Theo tục lệ cổ truyền ngôi đình  phải quay về hướng nam là hướng của thánh nhân. Trong ngôi đình thờ rất nhiều vị thần, nhưng vị thần quan trọng nhất là thần Thành Hoàng Bổn Cảnh. Thần Thành Hoàng là thần thành luỹ và hào luỹ, nói chung là thần phù hộ cộng đồng cư dân sống trong một khu vực. Thần Thành Hoàng có chức năng phù hộ cuộc sống của người dân về mặt tinh thần lẫn vật chất. Ngài là đại diện Thượng Đế, ngự trị ở mỗi địa phương, chí công vô tư trong việc thưởng phạt.
Thần Thành Hoàng có nhiều bậc, cao nhất là thần Thành Hoàng ở kinh đô, thấp hơn là thần Thành Hoàng tỉnh thành, phủ huyện gọi là Bổn Xứ Thành Hoàng Đại Vương. Cuối cùng ở cấp xã thôn có thần Thành Hoàng Bổn Cảnh. Đến thời Minh Mạng mới hoàn chỉnh quy chế phong tặng bách thần, chia ra hai loại, Nhiên thần và Nhân thần. Các loại thần linh này lại chia ba bậc, Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần, Hạ đẳng thần (thường gọi là “chi thần”).
Theo quy định của triều đình, các địa phương có những đền miếu linh thiêng thì được cấp sắc phong. Mỗi ngôi đình, đều được cấp một đạo sắc thần Thành Hoàng Bổn Cảnh, mang chức năng phù hộ cư dân địa phương(5). Như các xã thôn khác ở Nam bộ, đình Hắc Lăng cũng nhận được sắc phong, nội dung như sau.
 “Sắc : Hắc Lăng thành hoàng chi thần, nguyên tặng Bảo an Chánh trực hựu thiện chi thần, hộ quốc tí dân nẫm trứ linh ứng. Tứ kim phi ưng cảnh mệnh miến niệm thần hưu, khả gia tặng Bảo an Chánh trực Hựu thiện Đôn ngưng chi thần. Nhưng chuẩn Phước An huyện, Hắc Lăng xã y cựu phụng sự thần, kỳ tương hữu bảo ngã lê dân. Khâm tai.
Tự Đức ngũ niên, thập nhất nguyệt, nhị thập cửu nhật”.
Dịch nghĩa : Sắc : Thần Thành hoàng Hắc Lăng, nguyên được tặng là thần Bảo an Chánh trực Hựu thiện, giúp nước cứu dân từng nhiều lần hiển hiện linh ứng. Ta nay vâng theo mệnh sáng của trời, nghĩ nhớ đức tốt của thần, tặng thêm là thần Bảo an Chánh trực Hựu thiện Đôn ngưng, vẫn chuẩn cho xã Hắc Lăng, huyện Phước An thờ phụng như cũ. Thần thì phải che chở giúp đỡ cho dân đen của ta. Kính đấy!
Ngày 29 tháng 11 năm Tự Đức thứ 5 (1852)(6).
Theo ý nghĩa của mỹ tự, từ đời Minh Mạng vị thần này mang yếu tố nhân thần (Bảo An), đến đời Tự Đức lại mang yếu tố Thổ thần (Đôn Ngưng). Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh xã Hắc Lăng có mỹ tự “Quảng Hậu Chính Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng chi thần”. Mỹ tự này chứng tỏ thần Thành Hoàng ở đây mang yếu tố đất đai như “Đôn Ngưng”, “Quảng Hậu”.
 2. Lâm Thao Quận công Châu Văn Tiếp
Châu Văn Tiếp tục danh là Doãn Ngạnh (1738 - 1784) là vị nhân thần chính, được phối thờ tại Đình thần Hắc Lăng. Nguyên quán của Ông tại huyện Phù Mỹ, phủ Hoài Nhơn (Bình Định), sau dời đến Vân Hòa, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Ông có người anh cả là Châu Doãn Chử, hai em trai là Châu Doãn Chấn, Châu Doãn Húc và em gái Châu Thị Đậu. Ông vốn là tướng của nhà Tây Sơn, sau quy thuận dưới trướng chúa Nguyễn Ánh, được người đời xưng tụng là một trong  Gia Định tam hùng (Châu Văn Tiếp, Đỗ Thanh Nhân, Võ Tánh).
Năm Nhâm Dần (1782) quân Tây Sơn đánh chiếm thành Gia Định, Nguyễn Ánh thua chạy ra đảo Phú Quốc. Khâm sai Đô đốc Chưởng cơ Châu Văn Tiếp cùng thiếu phó Nguyễn Phúc Mân từ Bình Thuận đem đạo quân “Lương Sơn tá quốc”  vào cứu viện, đánh chiếm được Gia Định và đón Nguyễn Ánh trở về.  Nhờ đại công này Ông được phong Ngoại tả Chưởng dinh. Năm Quý Mão (1783)  quân Tây Sơn phá tan tuyến phòng thủ trên sông Nhà Bè (Sài Gòn), Nguyễn Phúc Mân bị chết, Dương Công Trừng bị bắt, Châu Văn Tiếp rút chạy sang Xiêm cầu viện. Tháng giêng năm Giáp Thìn (1784), Nguyễn Ánh sang Vọng Các, phong Châu Văn Tiếp làm Bình Tây Đại Đô đốc, dẫn quân Xiêm về nước đánh nhau với Tây Sơn. Ngày 13 tháng 10 cùng năm, Châu Văn Tiếp “dẫn thủy binh tiến đánh quân Tây Sơn ở sông Mân Thít (thuộc địa phận Long Hồ, nay là Vĩnh Long). Chưởng cơ Bảo (Chưởng Tiền Bảo) ra sức chống cự. Châu Văn Tiếp nhảy lên thuyền địch, bị quân Tây Sơn đâm trọng thương. Thế Tổ (Nguyễn Phúc Ánh) phất cờ ra lệnh cho quân đánh gấp vào, chém được Chưởng cơ Bảo. Châu Văn Tiếp không bao lâu cũng qua đời vì vết thương quá nặng, hưởng dương 46 tuổi”(7). Nguyễn Ánh cho chôn cất thi hài Ông tại làng An Hội, Cồn Cái Nhum (Tam Bình, Vĩnh Long). “Rồi truy tặng là Tả quân Đô đốc phủ trưởng phủ sự quận công, tên thuỵ là Trung Túc”(8).
Sau khi thu phục được Gia Định, đưa về táng tại ấp Hắc Lăng, huyện Phước An, dinh Trấn Biên (nay thuộc Bà Rịa - Vũng Tàu). Hậu cấp lụa và tiền gạo cho em gái Tiếp là Châu Thị Đậu(9), sai đặt mộ phu để giữ mộ, lại ban cho cái ỷ chạm con giao long sơn đỏ để bày trên bàn thờ(10). Sách Đại Nam nhất thống chí,. tập 5 do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, NXB Thuận Hóa, Huế 1992,  Tr 78 viết như sau: “Đền Châu Quận công ở xã Hắc Lăng, huyện Phước An, thờ Lâm thao Quận công Châu Văn Tiếp. Ông là người thôn Vân Hòa, huyện Đồng Xuân, đạo Phú Yên theo đòi ở Vọng Các, tỏ rõ công lao trong trận Mân Thít. Hết trung tử tiết, không có con, phần mộ ờ xã Hắc Lăng, chỉ có Nguyễn Văn Hóa người tỉnh Định Tường là cháu ngoại người em gái của ông đi lại trông nom. Năm Tự Đức thứ 3, nguyên thự Tuần phủ Định Tường là Đỗ Quang đem việc tâu lên, chuẩn cho lấy tiền công dựng từ đường ở xã Hắc Lăng, đặt 5 người phu mộ và cấp cho 60 mẫu ruộng thờ. Lại gia ơn cho Nguyễn Văn Hóa  được bổ thụ chức hàm tùng Cửu phẩm Bá hộ, để mỗi năm ngày kị đến nhà thờ sung chủ tự”.
Đến năm Gia Long thứ 6 (1807), xét công lao các bề tôi qua Vọng Các (Xiêm), ông được liệt hàng Đệ nhất đẳng khai quốc công thần, năm 1810 được thờ ở miếu Trung Hưng Công Thần (Huế). Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), Ông được truy tặng là Tả vận công thần, đặc tiến Tráng vũ tướng quân, Tả quân đô thống phủ trưởng phủ sự, thái bảo, đổi tên thuỵ là Tráng Liệt, phong là Lâm Thao Quận Công(11). Năm Tự Đức thứ ba (1850), vua cho lập đền thờ ông tại Hắc Lăng (Châu Quận công từ), cấp cho tự điển, mộ phu. Châu Văn Tiếp không có con trai kế tự, cháu ngoại là Nguyễn Văn Hóa, (con của Châu Thị Đậu), nhận phần phụng tự.
Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp (khoảng 1945 - 1946) đền thờ Châu văn Tiếp bị đốt cháy. Sau ngày giải phóng 1975 bài vị, tờ chế phong, chiếc ỷ (ngai) của Ông và tấm biển đại tự  “Lâm Thao Quận Công” vốn được dân địa phương cất giữ khi đền bị phóng hỏa, đưa vào phối thờ tại đình thần Hắc Lăng cho tới ngày nay(12).
 3. Chưởng cơ Diên Lộc hầu Nguyễn công
Diên Lộc hầu Nguyễn công tên thật là Nguyễn Diên(13). Năm 1674 Ông làm tham mưu cho tướng Dinh Thái Khang (Nha Trang) là Dương Lâm hầu (Nguyễn Dương Lâm) đi đánh Chân Lạp. Về thân thế của Ông, chưa thấy tài liệu nào nói rõ. Xin bắt đầu với cuốn sách xưa nhất chép về Ông. Sách Phủ biên tạp lục do nhà bác học Lê Quý Đôn soạn năm 1776 (Ông là quan Hiệp trấn dưới thời nhà Lê, phụ trách vùng Thuận Hoá, Quảng Nam nên đã sử dụng được nhiều tài liệu của các Chúa Nguyễn để lại). Đoạn sau đây nói về Diên Lộc hầu. “Năm đầu niên hiệu Đức Nguyên vua Lê Gia Tông (năm Giáp Dần - 1674), tháng hai, tên Nặc Đài người nước Cao Miên đuổi chúa nước ấy là Nặc Non. Chúa Phúc Tần sai tướng coi dinh Nha Trang là Dương Lâm Hầu đi đánh Nặc Đài và lấy Thủ hợp Diên phái tử làm tham mưu”(14)
Trịnh Hoài Đức là người thứ hai viết về Diên Lộc hầu trong sách Gia Định Thành thông chí biên soạn vào đầu thế kỷ XIX. Sách ấy viết như sau. “Bô Tâm (vua nước Cao Miên) đắp lũy đất ở vùng địa đầu Mô Xoài. Phía ngoài trồng tre gai, tăng thêm quân và voi để phòng thủ, thế rất vững. Tháng 2 năm Giáp Dần (1674) đời Thái Tông thứ 27, Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần sai tướng của dinh Thái Khang là Nguyễn Dương xuất chinh, cử thêm Nguyễn Diên làm Cai cơ thống lãnh tiên phong. Tháng 3, Diên Lộc hầu đến trước ở lũy Mô Xoài, nhân khi chúng không phòng bị xông vào đánh úp, chiếm lấy, binh sĩ giáo không hề vấy máu; qua ba ngày bọn chúng tụ họp lại vây đánh rất gắt, Diên Lộc hầu đóng cửa lũy không đánh trả, rồi đại quân của Dương Lâm hầu đến mới hiệp lực ra đánh, quân Cao Miên thua to, chết và bị thương rất đông. Nhân vậy mới gọi là lũy Phước Tứ. Nghe uy danh của Diên Lộc hầu, quân Cao Miên đều run sợ.
 Sau đó Diên Lộc hầu vì leo rừng lội suối, trải đủ gian nan hiểm trở, nên bị trọng bệnh rồi mất. Khi ấy báo tiệp và đem hết mọi việc tâu lên, chúa sắc phong tặng cho Diên Lộc hầu chức Chưởng cơ, thụy là Trung Võ, ra lệnh lập đền thờ, cầu khẩn việc gì đều được linh ứng, người Cao Miên qua lại chỗ này đều lo bước vội không dám ngó thẳng vào.
Lũy ấy trải mấy đời đều thế và dùng làm đồn trọng yếu cho đạo Mô Xoài. Nay loạn lạc đã yên, bốn bề không còn thành lũy, tuy thành vách đã hóa ra ruộng vườn, mà bờ tre xưa vẫn xanh tốt, còn nhìn ra được dấu tích của lũy xưa”(15).
Bộ chính sử Đại Nam thực lục tiền biên do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) viết như sau. “Giáp Dần năm thứ 26 (1674) sai Cai cơ đạo Nha Trang, dinh Thái Khang là Nguyễn Dương Lâm (con quận công Nguyễn Văn Nghĩa là Thống xuất dinh Quảng Bình) đem quân cứu nước Chân Lạp...Dương Lâm làm Thống binh, tướng thần lại Thủ hợp là Nguyễn Diên Phái làm Tham mưu, Văn Sùng (không rõ họ) làm Thị chiến, đem quân đi đánh...Thế là nước Chân Lạp yên.
Diên Phái và Văn Sùng chết ở trong quân. Diên Phái sau khi chết có ứng hiện linh thiêng, nhiều người cầu đảo. Chân Lạp lập đền thờ ở cửa biển Mỹ Tho (Định Tường)”(16).
Tư liệu này viết sau Phủ biên tạp lụcGia Định Thành thông chí, cơ bản giống nhau, nhưng có thêm chi tiết về người Chân Lạp lập đền thờ Ông ở Mỹ Tho (nay thuộc Tiền Giang)(17)
Sách Đại Nam liệt truyện tiền biên của Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn năm 1852, truyện về Diên Lộc hầu viết như sau. “Thái tông Hoàng đế thứ 26 (1674) Nặc Ô Đài (Bồ Tâm) ở Chân Lạp giết cha là Nặc Sô, tự lập làm vua, sợ triều đình đem quân đánh, bèn xây thành Nam Vang...tiến giữ Sài Gòn, xây lũy Hưng Phước rất kiên cố...Chúa bèn sai Dương Lâm làm Thống binh, Thủ hợp Nguyễn Diên làm Tham mưu, Văn Sùng làm Thị chiến đem quân đi đánh. Chia quân làm 2 đạo. Diên thống lĩnh đạo tiên phong đi trước, tiến gấp tới lũy Hưng Phước, nhân lúc quân giặc không đề phòng đánh chiếm được lũy. Kế quân Chân Lạp kéo tới vây chặt bốn phía, hết sức đánh vào lũy. Diên chỉ giữ chắc chứ không ra. Đến lúc đạo quân của Dương Lâm kéo tới, trong ngoài giáp kích, quân Chân Lạp tan vỡ. Bèn thừa thắng tiến chiếm Sài Gòn...
Diên là  quan văn cầm quân mà oai danh trấn động Chân Lạp, song vì vất vả mắc bệnh chết trong quân...triều đình truy tặng Diên là Câu Kê. Diên sau khi chết nhiều lần hiển hiện linh ứng, người Chân Lạp lập đền ở cửa biển Mỹ Tho để thờ”(18).
Bộ Địa chí Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn cuối thế kỷ XIX viết: “Đền Diên Công ở xã Hắc Lăng huyện Phước An có Diên Công thờ khai biên công thần Chưởng Cơ Diên Lộc hầu Nguyễn công, chép ở điển thờ”(19).
Các sử liệu trên đã cho biết danh nhân Diên Lộc hầu được thờ tự tại thôn Hắc Lăng, huyện Phước An, có ghi vào tự điển(20) (tức được phong thần và được dự vào lệ thờ tự của nhà nước). Nguyễn Diên là một danh tướng đời chúa Nguyễn Phúc Tần. Năm 1674 Ông  làm Tham mưu, Nguyễn Dương Lâm làm Thống suất đem quân từ Nha Trang vào đánh Chân Lạp. Nguyễn Diên lập kế đánh úp lũy Hưng Phước rồi cố thủ, chờ quân Nguyễn Dương Lâm đến, nội công ngoại kích thắng lợi. Chúa Nguyễn cho đổi tên lũy Hưng Phước thành Phước Tứ (phước trời cho). Sau trận này Nguyễn Diên vì lao tâm, lao lực bị bệnh mất, được truy tặng Câu Kê. Dân địa phương tôn kính, lập đền thờ Ông tại Bà Rịa. Người Chân Lạp thấy hiển linh lập đền thờ Ông tại Mỹ Tho. Đến đời vua Minh Mạng, Nguyễn Diên được truy tặng Khai Biên công thần, Chưởng cơ Diên Lộc hầu và được gia phong Chiêu dũng Thuận chính Trung đẳng thần. Đến đời vua Tự Đức, Ông được gia phong là Chiêu dũng Thuận chính, Tương vũ Linh cảm, Quang ý Trung đẳng thần (Sắc phong ngày 29-11- Tự Đức thứ 5 (1853) cấp cho xã Hắc Lăng).
 Sắc : Nguyễn phủ quân tôn thần, nguyên tặng Chiêu dũng Thuận chính Nhương vũ Linh cảm trung đẳng thần, hộ quốc tí dân nẫm trứ linh ứng. Tứ kim phi ưng cảnh mệnh, miến niệm thần hưu, khả gia tặng Chiêu dũng Thuận chính Tương vũ Linh cảm Quang ý trung đẳng thần, nhưng chuẩn Phước An huyện, Hắc Lăng xã y cựu phụng sự. Thần kỳ tướng hựu bảo ngã lê dân. Khâm tai !
Tự Đức ngũ niên, thập nhất nguyệt nhị thập cửu nhật.
Dịch nghĩa : Sắc: Nguyễn phủ quân tôn thần nguyên tặng Chiêu dũng Thuận chính Nhương vũ Linh cảm trung đẳng thần, giúp nước cứu dân từng nhiều lần hiển hiện linh ứng. Ta nay vâng theo mệnh sáng của trời, nghĩ nhớ đức tốt của thần, tặng thêm là Chiêu dũng Thuận chính Nhương vũ Linh cảm Quang ý trung đẳng thần, vẫn chuẩn cho xã Hắc Lăng, huyện Phước An thờ phụng như cũ. Thần thì phải che chở giúp đỡ cho dân đen của ta. Kính đấy !
Ngày 29 tháng 11 năm tự Đức thứ 5 (1852).
Như vậy, có thể khẳng định Chưởng cơ Diên Lộc hầu Nguyễn công không phải là Nguyễn Hữu Dực, bởi vì thời gian Ông qua đời (khoảng 1674) cách nhân vật “Nguyễn Hữu Dực” trên một thế kỷ (theo Hữu Chí, Phạm Anh Dũng “Nguyễn Hữu Dực” tử trận năm 1783).
Tổng hợp và phân tích từ các nguồn tư liệu, có thể hiểu trường hợp tử trận của Nguyễn Phúc Mân như sau. Năm 1782 thấy Nguyễn Ánh đã bỏ chạy ra biển, anh em Tây Sơn rút quân về Qui Nhơn, để lại hai hàng tướng là Đỗ Nhàn Trập và Hộ bộ Lãnh trấn giữ Gia Định. Châu Văn Tiếp - một tướng trước đây từng theo Tây Sơn, cùng Nguyễn Phúc Mân từ Bình Thuận mang quân vào đánh chiếm được Gia Định và đón Nguyễn Ánh trở về(12). Tháng 2 năm 1783, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ mang quân Nam tiến. Dù Nguyễn Ánh đã lập tuyến phòng thủ trước nhưng vẫn bị quân Tây Sơn phá tan, tướng của Nguyễn Ánh là Nguyễn Phúc Mân bị chết, Dương Công Trừng bị bắt, Châu Văn Tiếp rút chạy. Nguyễn Ánh buộc phải bôn tẩu ra đảo Phú Quốc(21).
Như vậy, Nguyễn Phúc Mân bị tử trận trên sông Nhà Bè (sông Sài Gòn) sau khi bảo (đồn binh) Giốc Ngư do Ông trấn giữ bị quân Tây Sơn tiêu diệt, do vậy nhân vật Nguyễn Phúc Mân không phải là Nguyễn Hữu Dực đang được thờ tự tại Đình thần Hắc Lăng.
Theo quy định của nhà Nguyễn ghi trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, trong sáu tước hiệu Vương, Công, Hầu, Bá, Tử, Nam thì tước vương chỉ phong cho người trong họ nhà vua (Nguyễn Phúc), còn các quan khác chỉ được phong cao nhất tới tước công (rất ít), tước hầu. Như vậy Nguyễn Phúc Mân là em của vua Gia Long, thuộc dòng họ tôn thất thì phải được phong là An Biên Quận vương và được thờ tự tại Thái miếu, chứ không thể chỉ phong tước hầu và thờ ông tại Hắc Lăng được.
 
4. Nguyễn Hữu Dực (Chưởng cơ Nguyễn Văn Dực)
Những năm cuối thập kỷ bảy mươi của thế kỷ XX, Nguyễn Hữu Dực được dân sở tại đưa vào thờ tại đình Hắc Lăng, kèm theo đó là truyền thuyết tôn vinh ông như một danh nhân của triều Nguyễn. Cố công tra tìm trong các sách sử triều Nguyễn, tuyệt nhiên không thấy nhân vật nào là “Hữu Quận công Nguyễn Hữu Dực”. Theo bộ chính sử Đại Nam liệt truyện chính biên của Quốc sử quán triều Nguyễn viết như sau. “Nguyễn Văn Dực Người huyện Phước An (nay là Bà Rịa -Vũng Tàu - tg), tỉnh Biên Hòa. Có công theo sang Vọng Các (cầu viện Xiêm La - tg), từng làm quan đến Tổng nhung Cai cơ Tiền quân. Năm Canh Tuất (1790), theo Lê Văn Quân đi đánh Bình Thuận. mùa thu năm ấy, ốm chết ở quân thứ, được tặng Chưởng cơ, được bày thờ vào 2 miếu Hiển Trung, Trung Hưng công thần, cũng ở hạng nhì về công theo sang Vọng Các và được cấp phu coi mộ”(22).
Nguyễn Hữu Dực có thể là Nguyễn Văn Dực. Theo cách kỵ húy thời Nguyễn thì Nguyễn Diên và Nguyễn Văn Dực đều được truy tặng Chưởng Cơ, dễ gây nên sự lầm lẫn trong dân chúng địa phương. Với sự nghiệp, thành tích “ở hạng nhì” như thế thì Nguyễn Văn Dực không thể chỉ được phong là Trung đẳng thần. Nhưng đến đời Bảo Đại năm thứ 11 (1937) thì Nguyễn Văn Dực (tức Nguyễn Hữu Dực) được phong Trung đẳng thần theo phong trào phong thần các công thần triều Nguyễn(23). Nhân vật này hiện còn nhiều bí ẩn, cần thiết phải có những công trình nghiên cứu nữa mới làm sáng tỏ.
PHẠM QUANG MINH
(Bảo tàng Bà Rịa-Vũng Tàu)
 
________________________________
 Chú thích.
(1). Trịnh Hoài Đức. Gia Định Thành thông chí. Nxb Giáo dục, 1998, tr.102.
(2). Nguyễn Đình Đầu. Tổng kết nghiên cứu địa bạ Nam kỳ lục tỉnh. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1994.
(3). Hội Sử học Bà Rịa -Vũng Tàu. Thông tin Khoa học Lịch sử số 15-2008. Tr. 57
(4). Quốc sử quán Triều Nguyễn. Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ. Nxb Khoa   học Xã hội. Hà Nội, 1974.
(5). Sđd (4)
(6). Phạm Quang Minh. Di sản Hán Nôm trong Di tích Lịch sử Văn hóa Bà Rịa Vũng Tàu. Thông tin khoa học Công nghệ Bà Rịa – Vũng Tàu. số 6/1999. tr23
(7). Ngô Giáp Dậu. Hoàng Việt hưng long chí. Nxb Văn học, 1993, tr. 119.
(8). Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam liệt truyện, tập 2. Nxb Thuận Hóa. Huế,1997, tr. 119
(9). Châu Thị Đậu hiệu là Châu muội nương, là người biết binh pháp, giỏi võ nghệ. Khi Lê Văn Quân người Định Tường (nay là Tiền Giang) ra phò tá Châu Văn Tiếp ở núi Trà Lang, Tiếp đem em gái là Thị Đậu gả cho. Tháng 4 năm Canh Tuất (1790), Lê Văn Quân làm tổng chỉ huy, đóng quân ở Hưng Phước (Bà Rịa) chống nhau với Tây Sơn rồi qua đời tại đây. Có thể vợ Ông (em gái Châu Văn Tiếp) khi ấy định cư luôn tại Hắc Lăng (nơi Ông đóng quân), nên sau khi thâu phục được Gia Định, Nguyễn Phúc Ánh cho cải táng hài cốt Châu Văn Tiếp tại xã Hắc Lăng và giao cho Châu Thị Đậu thờ cúng.
(10). Sđd (8). Tr. 120
(11). Tờ chế phong của Minh Mệnh năm Minh Mệnh  thứ 12, ngày 17 tháng 11 (1832) và chiếc ỷ của Gia Long ban tặng hiện còn lưu giữ tại Đình thần Hắc Lăng.
            Theo tờ chế thì Châu Văn Tiếp được vua Minh Mệnh  phong là “Lâm Thao Quận Công” chứ không phải là “Lâm Thao Tả Quận Công” như tấm biển tại cổng đình đã ghi nhầm.
(12). Sở Khoa học Công nghệ Bà Rịa-Vũng Tàu. Di sản Hán Nôm trong di tích LSVH Bà Rịa-Vũng Tàu. Đề tài khoa học do Bảo tàng Bà Rịa-Vũng Tàu và Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm thực hiện. Vũng Tàu, 2000. Tr. 89
(13). Sách Phủ biên tạp lục chép là Diên Phái tử, Gia Định Thành thông chí chép là Diên Lộc hầu Nguyễn Diên. Đại Nam thực lục tiền biên chép là Nguyễn Diên Phái. Đại Nam liệt truyện tiền biên chép là Nguyễn Diên, Đại Nam nhất thống chí chép là Diên Lộc hầu Nguyễn công. Bài viết này gọi tên Nguyễn Diên theo sách Gia Định Thành thông chí.
(14). Lê Quý Đôn. Phủ biên tạp lục, tập 1. Bản dịch của Lê Xuân Giáo. Ủy ban Dịch thuật, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa,  xuất bản 1972, tr. 94.
(15). Trịnh Hoài Đức. Gia Định Thành thông chí. Hậu học Lý Việt Dũng (dịch và chú giải), Tiến sĩ Huỳnh Văn Tới (hiệu đính, giới thiệu). Nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2008, tr.277, 278
(16). Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục tiền biên. Nxb Sử học. Hà Nội,  1962, tr. 122
(17). Chưa rõ ngôi đền thờ Nguyễn Diên ở chỗ nào tại cửa biển Mỹ Tho, song Gia Định Thành thông chí, Đại Nam nhất thống chí  đều có chép về đền thờ Diên công, ở huyện Phước An thuộc Biên Hòa thờ Khai biên công thần Chưởng cơ Diên Lộc hầu Nguyễn công, người Chân Lạp rất kính sợ.
(18). Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam liệt truyện Tiền biên. Nxb Khoa học Xã hội, 1995, tr. 192, 193.
(19). Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam nhất thống chí. Tập 5. NXB Thuận Hóa. Huế, 1992, tr. 77
(20). Sách  Đại Nam Thực Lục tiền Biên do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), tr.144 viết như sau: “Tháng 10, năm Tân Hợi (1791) định lệ lễ ở Văn miếu và ở các miếu dự tự điển. Ở Trấn biên hai miếu Chưởng dinh Lễ thành hầu và Chưởng cơ Diên Lộc hầu, lễ Chính đán mỗi sở tiền 10 quan, sái phu mỗi sở 5 người”.
(21). Tạ Chí Đại Trường, Lịch Sử Nội Chiến Việt Nam 1771- 1802, Nxb Văn Sử Địa. Sài Gòn, 1973, tr. 113.
(22). Sđd (8)  tr. 246, 247
(23). Trương Ngọc Tường.  Ngôi đình tại Bà Rịa-Vũng Tàu. Trong đề tài khoa học “Di tích và lễ hội truyền thống” Bảo tàng Bà Rịa-Vũng Tàu, 2003
print   Email   Top


Các tin khác:
BẢO TỒN KIẾN TRÚC CỔ DÂN GIAN TRUYỀN THỐNG BÀ RỊA - VŨNG TÀU (08-07-2016)
Bước đầu tìm hiểu việc định cư của người việt ở vùng đất Mô Xoài (24-08-2014)
Làng Long Điền thời Mô Xoài qua văn bia chùa Long Bàn (08-08-2014)
Suy nghỉ về hình thức lưu giữ ký ức vùng đất Mô Xoài trong tiến trình khai phá đất phương Nam (08-08-2014)
Tín ngưỡng dân gian của cư dân Mô Xoài (08-08-2014)
Long Viên Tự và những dấu ấn phật giáo nam bộ trên đất Bà Rịa (08-08-2014)
Môi trường sinh thái vùng đất Mô Xoài - Bà Rịa - nhìn từ địa điểm khảo cổ học sông Xoài 2 (xã Sông Xoài huyện Tân Thành) (07-08-2014)
Góp phần bổ sung tư liệu một số ngôi mộ hợp chất đã khai quật ở Bà Rịa (07-08-2014)
Kiến trúc đình làng thời Mô Xoài trên vùng đất Bà Rịa - Vũng Tàu (07-08-2014)
Núi Dinh xứ Mô Xoài - tiềm năng du lịch tâm linh phật giáo của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (07-08-2014)
Vòng (tường) thành Long Điền xưa - dấu tích kiến trúc đồn lũy của người Việt (07-08-2014)
Kiến trúc dân gian của cư dân xứ Mô Xoài (07-08-2014)
Di tích chùa Sắc Tứ Vạn An - dấu tích khai phá vùng đất Mô Xoài (07-08-2014)
Một số địa danh trong công cuộc khai phá xứ Mô Xoài (07-08-2014)
Địa danh Mô Xoài (07-08-2014)
Từ Xứ Mô Xoài - địa đầu mở cõi đến tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, quá trình hình thành và phát triển (07-08-2014)
Những vấn đề về tiểu sử và văn bản tác phẩm của Huỳnh Tịnh Của - người con ưu tú của xứ Mô Xoài (07-08-2014)
Phạm Khánh Đức - người khai mở đất Mô Xoài (07-08-2014)
Những công thần mở đất (07-08-2014)
Tư liệu Hán Nôm về chiến công đánh giặc Cao Miên của Chưởng cơ Nguyễn Diên tại đình Hắc Lăng (Xã Tam Phước huyện Long Điền tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) (07-08-2014)

 
Tiêu điểm & Sự kiện
  Giáo dục về nguồn - 2009

  Di tích lịch sử văn hoá núi Dinh

  Hải Đăng Vũng Tàu

  Lễ hội Dinh Cô

  Khảo cổ học BR-VT: Tìm về quá khứ
 
 
Thống kê truy cập
5.182.997