Tín nghưỡng thờ thần nữ ở Bà Rịa - Vũng Tàu
Tập tục thờ cúng nữ thần ở Nam bộ được đề cập sớm nhất là trong sách Gia Định thành thông chí (1820): “Nhiều người trung dũng khí tiết, trọng nghĩa khinh tài, dù hàng phụ nữ cũng thế, có nhiều giai nhân mỹ nữ, mà trong hạng người giàu sang, trường thọ khôn khéo cũng có xuất hiện tên tuổi của giới phụ nữ.

Họ hay chuộng đạo Phật, tin việc đồng bóng, kính trọng nữ thần, như: bà Chúa Ngọc, bà Chúa Động (quen gọi người phụ nhân tôn quý bằng Bà), bà Hỏa Tinh, bà Thủy Long, và cô Hồng, cô Hạnh”(1).

Trong các đình, chùa, miếu, lăng, tục thờ nữ thần được thờ phối tự hoặc có miễu (miếu) thờ riêng, thường gọi là miễu Bà. Bà Ngũ Hành được thờ phổ biến nhất. Đó là năm vị nữ thần ứng với: Thổ Đức thánh phi, Hỏa Đức thánh phi, Kim Đức thánh phi, Thủy Đức thánh phi và Mộc Đức thánh phi, biểu trưng cho 5 yếu tố vật chất cấu thành nên vũ trụ.
Đình Phước Lễ (thị xã Bà Rịa) có miếu thờ Thủy Long thần nữ, Thủy Long thần nữ hay thường gọi là bà Thủy, bao hàm cả chức phận của Hà Bá và cũng có thể là Thủy Đức thánh phi có mặt trong Ngũ Hành.
 Miễu Bà trong khuôn viên đình Thắng Tam (Vũng Tàu) ngoài bà Ngũ Hành còn thờ Thiên Y Ana và Thủy Long thần nữ, 5 cô, 5 cậu, Quan Công, Quan Bình, Châu Xương, Ông Địa, Thổ Công, Tiền Hiền. Trên chánh điện có cốt tượng 5 bà. Lễ hội miếu Bà từ 16 đến 18 tháng 10 âm lịch. Thủy Long thần nữ ở miếu này được triều Nguyễn cấp 3 đạo sắc với mỹ tự là Diệu Linh Quảng Tế Chiêu Ứng Thủy Long thần nữ.
Hòn Bà nằm cạnh chân núi Nhỏ, có ngôi miếu lớn thờ bà Ngũ Hành. Cạnh đó có ngôi miếu thờ Thủy Long thần nữ. Miễu Bà Long Hải (Long Điền) bên cạnh bàn thờ Ngũ Hành còn có cốt Bà Lớn (rùa da) ở chánh điện cùng với mộ táng ở phía trước. Bà Thủy Long, Mẹ Sanh, Mẹ Độ, Quan Âm, Quan Công, Thổ Thần được phối tự chung trong miễu. Trong Lăng ông Thắng Tam cũng có ban thờ Bà.
 Chúa Ngọc Nương Nương, Chúa Tiên Nương Nương là biến thiên của Thiên Y Ana Diễn Ngọc Phi, Bà Mẹ Xứ Sở Pô Nưgar của người Chăm là thần độ mạng cho phụ nữ tại gia và phù trợ cho cộng đồng, lệ cúng vào ngày 3 tháng 3 âm lịch và các ngày rằm. Bà chúa Tiên (chúa Ngọc) còn có hai người con là cậu Tài và cậu Quý, là những vị thần đặc biệt “bảo hộ” cho vùng sông nước. Dân sống bằng nghề hạ bạc và dân thương hồ đã đồng hóa Pô Nưgar với Thủy Long thánh phi, kèm theo hai người con của Bà là Cậu và Bà Cậu - những vị thần cai quản các hải đảo hoặc cù lao ven sông, biển. Pô Nưgar đã dần trở thành bà Chúa Xứ, một nữ thần phổ biến và đặc trưng nhất cho tín ngưỡng thờ mẫu của người Việt ở Nam Bộ chịu ảnh hưởng từ văn hóa Chăm. Miếu Bà Thắng Tam (Vũng Tàu) thờ Thiên Y Ana và Thủy Long thần nữ. Thiên Y Ana được phong 3 đạo sắc vào các ngày 27/11/1845, 26/12/1845, 8/11/1850 với mỹ tự Hồng Nhuệ Phổ Tế Linh Cảm Thiên Y Ana Diễn ngọc Phi. Đình Thắng Nhì, Thắng Nhất cũng thờ Thiên Y Ana nhưng không có sắc phong riêng.
 Sách Đại Nam nhất thống chí chép: đàn Kỳ Phong ở xã Phước Tỉnh dựng từ đời Gia Long, thờ các vị thần, trong đó có Điện Mẫu, Long Nữ, Diễn Bà, hàng năm tế vào đầu mùa xuân và mùa thu[i].  Ngôi miếu này được xây dựng trên gò cát cao thuộc ấp Phước Hưng, quay mặt ra sông Cửa Lấp. Miếu được xây dựng vào năm 1804, trùng tu năm 1994, chính điện có tượng và bàn thờ bà Chúa Xứ, lệ cúng vào ngày 16/3 âm lịch.
 Lăng ông Phước Hải thờ Ngung Man Nương, vị thần mà người Việt xem như là “tiền chủ” những mảnh đất mới khi họ đặt chân đến khai hoang. Đây vốn là nữ thần Uma, là hình ảnh của Bà Mẹ Xứ Sở của người Chăm từng bước “phân thân” thành nhiều Mẫu và con của Mẫu, được tiếp nhận trong tín ngưỡng của người Việt.
Chúa Xứ Nương Nương cũng cùng một nguồn gốc với chúa Ngọc, chúa Tiên nhưng có trú sở, lai lịch và thần tích riêng. Bà Chúa Xứ trên đất Nam Bộ hiện diện ở rất nhiều nơi, có thể được phối tự bên cạnh Thành Hoàng trong các ngôi đình, miễu thờ các nhân vật lịch sử, các ngôi đền hoặc lăng Ông; hoặc các miếu riêng. Các đình Thắng Nhất, Thắng Nhì cũng đều thờ Bà Chúa Xứ. Thôn Long Nguyên, thị trấn Long Điền có miếu Bà Chúa Xứ riêng.
Chúa Động Nương Nương (Bô Bô đại vương), một nữ thần Chăm, gốc miền Trung, bảo hộ cho nghề làm rừng, đựợc thờ tại nhiều ngôi miếu ở Long Điền, Đất Đỏ, Bà Rịa, Cần Giờ…, ngày vía là 15/3 âm lịch. Chúa Động Nương Nương được thỉnh nhắc trong văn tế ở Dinh Cô, thực chất cũng là “hoá thân” của Thiên Y Ana.
Thiên Hậu Thánh Mẫu (960-987) là nữ thần họ Lâm này là cô gái út trong một gia đình 6 anh em, người cha là thương nhân ở huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc). Bà từng cứu sống cha  trong một vụ đắm thuyền trên biển bằng những lời cầu nguyện.  Bà mất lúc còn trinh nữ (năm 987). Thiên Hậu Thánh Mẫu thường hiển linh cứu người bị nạn trên biển. Bà Thiên Hậu được người Hoa đưa vào Nam Bộ ngay từ thế kỷ XVI, XVII, hòa nhập vào hệ thống thần linh địa phương.  
Trước đây, tại Chợ Bến - Long Thạnh (Long Điền), Phước Lễ (Bà Rịa) và một số nơi khác đều có thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu với tên gọi là chùa Bà, về sau bị phá hoại trong chiến tranh. Miếu thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu trên núi Dinh Cố do một thương nhân người Hoa xây cất để tri ân vị thần nữ đã giúp mình sống sót sau một cơn bão, hiện vẫn còn được thờ phụng. Một ngôi miếu thờ Bà Thiên Hậu cũng do người Hoa góp tiền xây dựng tại xã Long Hương (Bà Rịa) về sau được phối tự thêm bà Ngũ Hành. Làng Lưới Rê xưa của xã Phước Hải (Đất Đỏ) có ngôi đền thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu do thương nhân Hoa kiều lập vào năm 1930. Thiên Hậu Thánh Mẫu được thờ ở chánh điện, phối tự còn có hai bà hầu của Thiên Hậu, Bà Chúa Xứ, Bà Ngũ Hành, Phật Bà Quan Âm. Dân địa phương gọi là thờ 10 ban(2).
Miếu Bà Ngũ Bang (Vũng Tàu) do cộng đồng người Hoa sinh sống góp tiền xây dựng vào năm 1968. Ngoài tượng Bà Thiên Hậu, miếu còn thờ một số vị thần như Thần Tài, Kim Hoa, Long Mẫu, Quan Thánh, Quan Âm, Lưu Trọng Bình, Văn Xương Đế, Huỳnh Đại Tiên, Hoa Đà…Điều này cho thấy sự hỗn dung trong hệ thống tôn giáo tín ngưỡng của Nho, Phật, Lão và các hình thức tôn giáo nguyên thủy, vốn có sẵn từ cộng đồng người Hoa lục địa, được những di dân người Hoa mang sang đây gần như nguyên vẹn. Đền thờ Hùng Vương (Vũng Tàu) vốn được xây dựng từ ngôi miếu cổ thờ Bà Thiên Hậu của người Hoa.
Cửu Thiên Huyền Nữ là nữ thần cai quản 9 cõi trời : Quân Thiên, Thượng Thiên, Biến Thiên, Huyền Thiên, U Thiên, Hiệu Thiên, Chu Thiên, Viêm Thiên và Dương Thiên. Tòng tự có Tả ban, Hữu ban, Kim Đồng, Ngọc Nữ. Bà là tổ các nghề thủ công, nghề mộc, dệt vải, may vá, ca múa, diễn hát… Cửu Thiên Huyền Nữ cũng là thần phù hộ xóm ấp, độ mạng nữ giới, chuyên trị tà ma quỉ mị, thường được thờ tại tư gia, đền, miễu… và được mời thỉnh về dự lễ xây chầu đại bội trong dịp cúng kỳ yên. Quyền năng của Cửu Thiên Huyền Nữ sánh ngang với trời đất, nên theo quy định của nhà Nguyễn, những nơi thờ bà được cấp sắc chỉ.
Đền Cửu Thiên Huyền Nữ (Vũng Tàu) được xây dựng với quy mô nhỏ, kiến trúc đơn giản, gồm tòa đại bái, cung đệ nhất, cung đệ nhị và cung đệ tam. Cách bài trí các ban thờ khá tự do. Cung đệ tam (hậu cung) thờ tượng Mẫu Cửu Thiên Huyền Nữ, Phật Bà Quan Âm, Tam tòa Thánh Mẫu (mẫu Thượng Thiên, Thượng Ngàn, Thủy Phủ), cô Nhất, cô Chín (thủ đền) và cậu Đệ nhất. Cung đệ nhị đặt ban thờ Quốc tổ Hùng Vương. Cung đệ nhất thờ Đức vua cha Bát Hải cùng 5 vị quan và 4 người con trai. Ngoài ra còn thờ Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo. Đặc biệt, tại cung đệ nhất có một kiến trúc đặc trưng của đền thờ mẫu là khu hòn non bộ giả sơn, miêu tả động chúa với hình ảnh 12 cô sơn trang trên ngàn dưới thoải. Hàng năm, đền Cửu Thiên Huyền Nữ có 4 ngày lễ hội: 6-2 (âm lịch) tế lễ Hai Bà Trưng, 10-3  tế lễ Quốc tổ Hùng Vương, 23-3 và 9-9 tế lễ Mẫu. Nghi lễ thờ cúng đức Thánh Mẫu tại đền Cửu Thiên Huyền Nữ mang tính chất chung của nghi lễ hầu bóng, tôn nhang, trình đồng của đền phủ miền Bắc. Đây là tục thờ Mẫu, bắt nguồn từ sinh hoạt tín ngưỡng dân gian Bắc Bộ, sau mới phát triển vào Nam Bộ.  Đáng chú ý là tín ngưỡng “thờ Mẹ” thường tôn thờ một hệ thống nhân thần và nhiên thần mà thần tích luôn có khuynh hướng trần gian hóa, xoay quanh Liễu Hạnh công chúa hoặc Tứ vị Thánh Mẫu (Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Địa Tiên Thánh Mẫu, Mẫu Thoải), Ngũ vị Vương Quan, Tứ vị Chầu Bà, Mười ông Hoàng, Mười hai Cô, Mười hai Cậu, Ngũ Hổ (cọp), Ông Lốt (rắn)(3). Cửu Thiên Huyền Nữ còn được tòng tự tại Dinh Cô (Long Hải) với Chúa Ngọc Nương Nương, Chúa Tiên Nương Nương, Quan Thế Âm Bồ Tát, Hỏa Tinh Thánh Nương, Quan Thánh Đế Quân.
Điện Bà núi Chân Tiên (huyện Long Điền) cũng thờ Cửu Thiên Huyền Nữ, có cốt tượng Bà, Phật Bà Quan Âm, bên cạnh là miếu thờ Thần Hổ và ban thờ Bác Hồ. Nơi đây tương truyền còn dấu chân in trên vách đá. Sách Đại Nam nhất thống chí chép:”Núi Tiên Cước ở cách huyện Phước An 6 dặm về phía đông nam, đá đội nổi đất lên, đầu núi có một vết chân người thành ngấn trên đá, tương truyền đấy là dấu vết của tiên, người ta phết màu son, nay vẫn còn"(4) . Điện Bà núi Chân Tiên nằm ở vị trí cách miếu thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu không xa. Điều này càng làm rõ thêm tính hỗn dung trong tập tục thờ nữ thần ở vùng đất này.
Ở Bà Rịa-Vũng Tàu cũng như ở Nam Bộ, Quan Âm được xem có họ hàng với các nữ thần, cùng chức năng cứu khổ, cứu nạn, nhất là cứu nạn trên biển. Cho nên Quan Âm không chỉ được thờ ở  chùa mà còn gắn với các miễu, nhiều khi cũng được cúng đồ mặn như các nữ thần khác hoặc phối tự ở các miếu lẻ. Quan Âm được thờ ở đình Phước Hoà (huyện Tân Thành), điện Bà, miếu Bà, miếu Bà Ngũ Bang (Vũng Tàu), Dinh Cô, miếu Bà Long Hải (huyện Long Điền)…
Quan Âm Bồ Tát hay Quán Thế Âm vừa là Phật Bà vừa là thần nữ, đặc biệt bảo trợ phụ nữ và ban con cầu tự, tuy dạng nam thần vẫn còn bên cạnh Adiđà trong các chùa. Trên đường xuống phía Nam, Quan Âm trở thành Quan Âm Nam Hải, Quan Âm của người bình dân. Ngoài hình dạng ôm Hồng Hài Nhi còn được tạc dưới dạng mang bình Tịnh thủy nhúng cành dương cứu nạn, hai bên có Thiện Tài đồng tử và Long Nữ đứng đầu. Cùng với sự phát triển thương mại bằng đường biển, vị thế các nữ thần biển ngày càng được nâng cao(5).
Lăng ông Thắng Tam (Vũng Tàu) vẫn còn lưu giữ bức tranh mô tả Phật Quan Âm tuần du đại hải, ban phép thâu đường để cá Ông cứu người bị nạn trên biển. Trong Tục thờ cúng của ngư phủ Khánh Hòa, Lê Quang Nghiêm có thuật lại : “Ngư dân ven bờ biển Bình Thuận lại có 12 câu nguyện gọi là Thập nhị đại nguyên. Tương truyền là của đức Quan Thế Âm truyền lại cho họ để cầu lên kêu cứu với Nam Hải đại vương trước mọi tai nạn(6). Điều này thể hiện ảnh hưởng của Phật giáo trong tín ngưỡng dân gian thông qua tục thờ nữ thần.
Không chỉ dung nạp các vị thần có nguồn gốc nhập cư, cư dân việt ở địa phương cũng lưu giữ trong niềm tin của mình những nữ thần bản địa tuy không giàu thần tích nhưng gắn bó mật thiết với mảnh đất sinh tụ. Thị Vãi là một nữ thần giàu lòng nhân ái, thủy chung, được người địa phương yêu mến lập miếu thờ. Tên tuổi của bà gắn liền với núi sông. Sách xưa chép: “Núi nữ Tăng (tục danh núi Bà Vãi), ở về huyện Long Thành. Trước có người con gái họ Lê, gia tư giàu có, kén chọn lỗi thời, sau khi cha mẹ chết, mới lấy chồng, không bao lâu người chồng ấy chết, thề quyết không đi bước nữa, khổ vì bọn thế hào cứ sai người đến mối lái quấy nhiễu, bèn trốn đời cắt tóc đi tu dựng am ở đỉnh núi, tự làm sư thầy, tôi tớ thì làm đồ đệ, tụng niệm tu trì, bèn nên chính quả, người ta nhân đó mà gọi tên núi(7).
Bà Trao (không rõ họ và quê quán) tương truyền là một nhân vật nữ, đã đến Núi Nứa (đảo Long Sơn, Vũng Tàu) khai hoang lập nghiệp vào khoảng giữa thế kỷ XIX và lâp ra ấp Bà Trao(8). Để tưởng nhớ công lao của bà, người dân ở đây đã lập miếu thờ, xem bà như vị tiền hiền khai khẩn vùng đất này. Đỉnh núi cao nhất đảo Long Sơn (183m) cũng được đặt tên là đỉnh Bà Trao.
Về truyền thuyết bà Phi Yến ở Côn Đảo, lâu nay các tài liệu đều cho rằng do Bà can ngăn Nguyễn Ánh cầu viện nước ngoài nên bị bỏ rơi lại đảo cùng với hoàng tử Cải (hoàng tử Hội An), về sau cả hai đều chết và hiển linh. Hiện bà Phi Yến và hoàng tử Cải được thờ tại miếu An Hải (An Sơn tự). Ngày giỗ của Bà là 18-10 âm lịch. Cách thờ phượng giống như dạng tín ngưỡng thờ Thiên Y Ana vốn rất phổ biến trong các cộng đồng cư dân hải đảo và ven biển, thông qua dạng thức thờ Bà và Cậu.
Dinh Cô (huyện Long Điền) thờ cô Lê Thị Hồng Thủy, theo cha từ Phan Rang vào Gia Định buôn bán. Khi thuyền đi ngang vùng biển này thì gặp bão, cô bị rớt xuống biển và xác trôi dạt vào vũng Mù U. Bia mộ được lập năm Bính Dần (1866). Sách Đại nam nhất thông chí viết về núi Thùy Vân: “Ngoài đỉnh có ngọn Thần Nữ phong, tục gọi là mỏm Dinh Cô có gò đá đụn cát. Xưa có người con gái 17, 18 gặp nạn gió táp vào chết dạt ở đấy. Thổ nhân đem chôn và đêm sau người ta mộng thấy nữ nhân ấy từ đó bay đến giúp đỡ cho mọi người. Người ta cho là thần nên lập đền thờ nơi núi, nay vẫn còn"(9). Lễ hội ở Dinh Cô được gọi là lễ Nghinh Cô, ngày giỗ Cô với mỹ hiệu “dân phong” là Long Hải Thần Nữ Bảo An Chính Trực Nương Nương.
Dinh Cô Long Hải đã trở thành một cơ sở tín ngưỡng có uy linh bao trùm và lễ hội này thu hút đông đảo người địa phương và tứ xứ đến dự. Nói cách khác, nhân vật được thờ tự có số phận bi đát như là một ảnh chiếu của chính bản thân mỗi thành viên của cộng đồng ngư dân trước sức mạnh của biển cả (10).
Bên cạnh Bà Cô còn có cả một hệ thống thần linh được đưa vào thờ tự như: Diêu Trì Phật Mẫu, Chúa Cậu hay Nhị vị công tử (Cậu Tài và Cậu Quý, con của Bà Chúa Ngọc), Ngũ Hành Nương Nương, đặt biệt có cả Tứ pháp nương nương (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) Ông Địa và Thần Tài… Hương án các miếu nhỏ xung quanh thờ: Cửu Thiên Huyền Nữ, Chúa Ngọc Nương Nương, Chúa Tiên Nương Nương, Quan Thế Âm Bồ Tát, Hỏa Tinh Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân… Có thể thấy ở đây nhiều dòng văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc khác nhau của Việt (Bắc, Trung, Nam); Hoa, Chăm; Phật, Nho, Lão… mà trên hết là sự liên kết bởi tín ngưỡng thờ các “Mẹ” tiêu biểu cho các “Mẫu nhiên thần” ở cả nước xoay quanh trung tâm một “Mẫu nhân thần” địa phương là Bà Cô.
Lễ hội Nghinh Cô diễn ra vào ba ngày 10,11 và 12-2 âm lịch, đây là lễ hội lớn nhất ở vùng biển phía Nam nước ta, thực chất là lễ hội cầu ngư của cộng đồng cư dân chuyên nghề sông biển. Trong bài văn tế bằng chữ Hán ghi: "…Xuân thiên kỳ ngư chi lệ-Tịch hiến hoa nhất diên" (Theo lệ cầu ngư mùa xuân- Mở một cuộc lễ dâng hoa). Các thần linh được mời về để dâng hoa ngoài Cô còn có: Chúa Động Nương Nương, Long Cung Thủy Mẫu Nương Nương, Ngũ Hành Nương Nương, Cô Hồng, Cô Các, Cậu Tài, Cậu Quý. Lễ hội Nghinh Cô có các nghi thức rước Thủy thần và nghinh ông Nam Hải (cá voi) từ lăng ông, rước Bà Sáu - Bà Lớn (rùa biển) từ miễu Bà và nghi lễ là một diễn xướng tổng hợp gọi là hát bóng rỗi với các nghi thức khai tràng dâng liễn, bá trạo nghinh 5 bà, múa dâng bông, múa dâng mâm, chặp địa nàng… và hát bá trạo.
Do đặc điểm địa lý có một bờ biển dài, Bà Rịa-Vũng Tàu đã tiếp nhận trong tín ngưỡng dân gian một tập hợp những thần nữ liên quan đến sông nước với sự giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa ba tộc người Việt-Hoa-Chăm trong tập tục thờ nữ thần trên địa bàn thông qua hệ thống thần điện, nghi lễ thờ cúng, trong đó tín ngưỡng Việt giữ vai trò chủ đạo, kế đến là tín ngưỡng Hoa và một phần tín ngưỡng người Chăm, có sự hòa trộn, đan xen rõ rệt giữa các yếu tố của tôn giáo (Nho, Phật, Lão) với tín ngưỡng dân gian trong tập tục thờ nữ thần ở vùng đất này biểu hiện qua việc phối tự, nghi lễ.
Ths. Nguyễn Thanh Lợi
(Trường Cao đẳng Mẫu giáo TW3)



1. Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, tập hạ, Nguyễn tạo dịch, Nha văn hoá Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xb, Sài Gòn, 1972, tr.4.
2. Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam quốc âm tự vị, tập 1, Rey Curiol & C 1e, Saigon, 1895, tr.19.
3. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 5, Phạm Trọng Điềm dịch, nxb Thuận Hóa, 1992, tr.75.
4. Tsai Maw Kuey, Người Hoa ở miền Nam Việt Nam, Bộ Quốc gia Giáo dục, Sài Gòn, 1968, tr.175-178.
5. Huỳnh Quốc Thắng, Lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ (khía cạnh giao tiếp văn hoá tộc người), Viện Văn hoá-Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003, tr.143-144.
6. Quốc sử quán triều Nguyễn, sđd, tr.48.
7. Tạ Chí Đại Trường, Thần, người và đất Việt, Văn nghệ xb, California, tr.195-197.
8. Lê Quang Nghiêm, Tục thờ cúng của ngư phủ Khánh Hòa, Sài Gòn, 1970, tr.26.
9. Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Đỗ Mộng Khương  dịch, nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr.22.
10. Làng Núi Nứa, tổng An Phú Hạ, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa.